Lò đốt rác thải y tế quy mô nhỏ

0
1382

công ty môi trường SACOTEC chuyên tư vấn thiết kế xây dựng hệ thống xử lý rác thải. Công ty có đội ngũ kỹ thuật chuyên sâu về môi trường, thiết kế các hệ thống hiện đại, giảm chi phí đầu tư , áp dụng công nghệ xử lý rác thải hiện đại, hoàn thành theo đúng thời gian đề ra. Với tiêu chí“Uy tín, chất lượng để giữ vững niềm tin với khách hàng”.

I. THỰC TRẠNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

Hiện nay, tại Việt Nam ngoài các bệnh viện lớn có cơ sở vật chất hiện đại ở Trung ương và các thành phố lớn còn có hàng ngàn bệnh viện và các trạm y tế nhỏ của các địa phương đang hoạt động và thải ra lượng lớn chất thải y tế. Chất thải rắn y tế được phân loại như sau:

1 – Chất thải lâm sàng bao gồm các nhóm A (chất nhiễm khuẩn như vật liệu thấm máu, dịch, băng gạc, bông băng, túi đựng dịch dẫn lưu), nhóm B (các vật sắc nhọn), nhóm C (chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm), nhóm D (chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, thuốc gây độc tế bào) và nhóm E (các mô và cơ quan người, động vật).

2 – Chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, hóa trị liệu và các nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn.

3 – Chất thải hoá học bao gồm không gây nguy hại và nguy hại như formaldehyt, hoá chất quang học, các dung môi, hoá chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn.

4 – Các bình chứa khí có áp suất.

5 – Chất thải sinh hoạt như giấy loại, vật liệu đóng gói, thức ăn dư thừa và chất thải ngoại cảnh.

Thành phần chất thải y tế cũng khác nhau tùy theo nguồn gốc và cách thu gom (bảng 1 trình bày thành phần hóa học của một số loại rác y tế). Như vậy, có thể không phải chất thải y tế nào cũng được xếp vào loại chất thải nguy hại nhưng xét về mặt môi trường thì chúng cũng có ảnh hưởng không tốt nếu không được xử lý đúng. Theo tài liệu quản lý chất thải y tế do Bộ Tài nguyên & Môi trường phát hành, lượng rác thải mỗi ngày từ các trung tâm y tế cả nước tính từ cấp huyện trở lên khoảng 240 tấn. Đối với các trạm y tế nhỏ tuy không có số liệu chính xác nhưng lượng chất thải y tế cũng chiếm khoảng 20 ÷ 40% lượng rác tổng cộng. Thành phần chất thải y tế ở một số bệnh viện, trung tâm y tế được trình bày ở bảng 2.

Chất thải y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là môi trường bệnh viện là nơi chăm sóc sức khoẻ cho bệnh nhân, vì chứa không chỉ hóa chất nguy hại mà gần như toàn bộ các loại vi trùng độc hại. Trong tương lai, lượng chất thải ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế và sự tăng dân số làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng hơn. Để khắc phục tình trạng này phải có biện pháp thích hợp để xử lý rác thải y tế. Xử lý chất thải y tế bằng phương pháp đốt là biện pháp hiệu quả và đang dần được phổ biến ở nước ta.

Bảng 1: Thành phần hóa học của một số chất thải

Thành phần Thành phần hóa học (%khối lượng)
Cacbon Hydro Oxy Nitơ Lưu huỳnh Tro
Bệnh phẩm 50,8 9,35 39,85 vết  
Giấy 43,5 6,0 44,0 0,3 0,2 6,0
Carton 44,0 5,9 44,6 0,3 0,2 5,0
Nhựa 60,0 7,2 22,8 10,0
Vải 55,0 6,6 31,2 4,6 0,15
Cao su 78,0 10,0 2,0 10,0

Nguồn: Khảo sát đánh giá hiệu quả các lò đốt chất thải y tế khu vực phía Nam. Đề tài nghiên cứu cấp TP Hồ Chí Minh 2002, Đào Văn Lượng và các cộng tác viên

Bảng 2: Thành phần chất thải y tế một số bệnh viện, trung tâm y tế

Thành phần (%KL) Nhựa, bơm tiêm, cao su Dược phẩm, hoá chất, bệnh phẩm Thành phần khác
BVĐK  Bình Dương 65 15 20
TTYT Bến Cầu – Tây Ninh 18 5 77
BVQY 175-Bộ quốc phòng 13,3 9,4 73,3
TT lao và bệnh phổi Tiền Giang 50 15 35
BVĐK TP.Vũng Tàu 15 15 70

Nguồn: Khảo sát đánh giá hiệu quả các lò đốt chất thải y tế khu vực phía Nam. Đề tài nghiên cứu cấp TP Hồ Chí Minh 2002, Đào Văn Lượng và các cộng tác viên

Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh Tây Ninh: “Khảo sát thực trạng chất thải y tế tại các đơn vị thuộc ngành y tế tỉnh Tây Ninh và xây dựng phương án xử lý ô nhiễm thích hợp cho từng đơn vị” công ty môi trường SACOTEC đã khảo sát thực trạng chất thải y tế tại các đơn vị thuộc ngành y tế tỉnh Tây Ninh và đưa ra số liệu thống kê về lượng rác thải y tế của các trung tâm y tế quận, huyện như trình bày trong bảng 3.

Bảng 3: Thành phần chất thải y tế ở một số bệnh viện, trung tâm y tế thuộc tỉnh Tây Ninh

Đơn vị Thành phần chất thải lâm sàng

Tổng (gam/ngày)

Nhóm A Nhóm B Nhóm C Nhóm D Nhóm E
Trảng Bàng 28.654 8.077 1.318 2.808 41.042
Gò Dầu 7.115 3.430 200 10.745
Bến Cầu 5.850 450 350 1.000 7.650
Châu Thành 3.233 1.678 611 1.944 7.467
Tân Biên 10.500 900 900 2.500 14.800
Tân Châu 2.132 1.214 714 1.153 5.212
TXTN 1.570 800 110 134 2.601
TTPC Lao 2.690 1.710 2.740 7.140
DM Châu 2.700 1.078 733 1.956 6.467
YHCT 1.000 180 350 1.530
Hòa Thành 5.440 3.650 2.210 1.080 12.380

Như vậy, lượng chất thải rắn từ các đơn vị y tế có thể được tính tương đối như sau:

– Bệnh viện đa khoa: # 50 kg/ngày

– Trung tâm y tế quận, huyện: # 20 ÷ 30 kg/ngày

– Trạm y tế xã, công ty; phòng khám tư nhân; bệnh xá trường cai nghiện: #2÷5 kg/ngày

Trong thực tế các trung tâm y tế huyện và các trạm y tế xã nằm ở vùng xa, không có điều kiện thu gom chất thải y tế để đốt tập trung, đồng thời trình độ dân trí tại các vùng này còn thấp làm cho khả năng tiếp thu thiết bị mới cũng như công tác bảo trì sau này gặp nhiều khó khăn.

II. PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

Hiện nay, có đến khoảng 2/3 bệnh viện vẫn chưa được trang bị lò đốt rác thải y tế để tiêu hủy rác thải đảm bảo vệ sinh. Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại và chưa được khử khuẩn khi thải bỏ. Nhà lưu chứa không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng. Cho nên, rác thải y tế ở một số địa ph­ương đang là một trong những vấn đề bức xúc và cần được quan tâm nhất hiện nay.

Ở Việt Nam hiện đang tồn tại hai phương pháp xử lý rác thải y tế phổ biến: phương pháp tiêu hủy thủ công (chôn lấp hoặc đốt thủ công ở nhiệt độ thấp) và phương pháp đốt nhiệt phân. Chôn lấp là một phương pháp xử lý rác thải lạc hậu và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhưng vẫn đang được ứng dụng ở nhiều bệnh viện kể cả các bệnh viện tuyến tỉnh; trong khi đó, các nước tiên tiến trên thế giới đã áp dụng rộng rãi phương pháp đốt nhiệt phân để xử lý các chất thải nguy hại do tính ưu việt là giảm 90 – 95% khối lượng, đồng thời xử lý khá triệt để các chất độc hại trong thời gian ngắn. Do vậy, xử lý rác thải y tế bằng cách sử dụng lò đốt rác theo nguyên lý nhiệt phân đang được nghiên cứu ứng dụng ở nhiều địa phương.

Các loại lò đốt rác thải y tế trên thị trường Việt Nam thường có công suất từ 30 kg/giờ trở lên nhằm phục vụ các bệnh viện lớn. Tuy nhiên, việc sử dụng các loại lò trên chỉ thích hợp cho việc xử lý rác thải y tế tại một số bệnh viện lớn cấp tỉnh mà không phù hợp cho các bệnh viện cấp huyện, trạm y tế của các trường học, công ty, xí nghiệp do các nguyên nhân sau:

– Chi phí đầu tư ban đầu lớn gây lãng phí.

– Chi phí vận hành cao vì tỉ số thời gian hữu ích (tỉ số giữa thời gian đốt rác thực trên tổng thời gian hoạt động của lò bao gồm thời gian khởi động, đốt và chờ trước lúc ngưng hoạt động) thấp.

– Yêu cầu nhân viên vận hành có trình độ chuyên môn cao và có lực lượng bảo trì của đơn vị sử dụng.

Do vậy, nghiên cứu thiết kế chế tạo lò đốt rác thải công suất nhỏ nhằm giải quyết vấn đề rác thải y tế cho các đơn vị y tế cấp cơ sở là một vấn đề rất có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

2.1. Xử lý rác thải y tế theo nguyên lý nhiệt phân

Nhiệt phân là quá trình phân hủy ở nhiệt độ cao trong điều kiện thiếu oxi. Tốc độ nhiệt phân phụ thuộc vào nhiệt độ, thành phần, cấu trúc chất thải và chế độ cấp khí. Phản ứng nhiệt phân xảy ra như sau:

Chất thải ®  Các chất bay hơi  +  Cặn rắn

Trong đó:

+Các chất bay hơi chủ yếu: CxHy, H2, COx, NOx, SOx và cả hơi nước.

+Cặn rắn: cacbon cố định và tro.

Công nghệ nhiệt phân là một công nghệ tiên tiến, có nhiều ưu điểm so với các công nghệ đốt khác như: đốt cháy triệt để, nhiệt độ cháy cao, làm giảm đáng kể lượng bụi phát sinh trong quá trình đốt và hiệu quả xử lý chất ô nhiễm rất cao. Quá trình đốt chất thải trong lò nhiệt phân xảy ra như sau:

– Tại buồng sơ cấp: thực hiện quá trình sấy khô (bốc hơi nước) chất thải, phân hủy nhiệt tạo khí gas (CH4, CO, H2, …) và cặn cacbon. Thực tế, với sự có mặt của oxi và khí gas trong buồng nhiệt phân ở nhiệt độ cao đã xảy quá trình cháy, nhiệt sinh ra lại cấp cho phản ứng nhiệt phân, do vậy tiết kiệm được năng lượng. Quá trình nhiệt phân thường bắt đầu từ 250 – 650oC và kết thúc sẽ hình thành cặn cacbon và tro.

– Tại buồng thứ cấp: thực hiện quá trình đốt khí gas sinh ra từ buồng sơ cấp đưa lên trong điều kiện dư oxi. Tốc độ cháy phụ thuộc vào nhiệt độ và nồng độ khí gas tạo thành trong hỗn hợp khí.

– Quá trình tạo tro xỉ: Tro xỉ được hình thành vào giai đoạn cuối, là phần rắn không cháy được. Tro là những chất rắn không cháy được, còn xỉ chính là tro nóng chảy tạo thành.

Các giai đoạn của quá trình cháy thực tế không phải tiến hành tuần tự, tách biệt mà tiến hành gối đầu xen kẽ nhau.

 2.2. Xử lý khí thải lò đốt rác y tế

Đặc điểm khí thải lò đốt chất thải y tế:

– Hàm lượng các khí HCl, HF thấp (vì thành phần nhựa trong rác thải chủ yếu là PE)

– Hàm lượng CO, SOx, bụi, VOCs: không ổn định, thấp nhưng vẫn vượt quá giới hạn cho phép.

– Hàm lượng NOx cao do đốt cháy thành phần N hữu cơ trong rác thải (khoảng 70 ÷ 80% thành phần khí NOx sinh ra), và một phần tạo thành do oxi phản ứng với nitơ trong không khí ở nhiệt độ cao.

– Nhiệt độ và lưu lượng khí thải biến động.

– Áp suất dư rất nhỏ (<100 mm H2O).

Thành phần khí thải của lò đốt tùy thuộc vào thành phần rác thải và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đốt. Khí thải lò đốt chất thải y tế phải đảm bảo đạt TCVN 6560:2005 (nay là QCVN 02/2008/BTNMT) quy định giới hạn tối đa cho phép đối với các thông số ô nhiễm trong khí thải lò đốt chất thải rắn y tế.

Để xử lý khí thải lò đốt chất thải nguy hại có thể sử dụng nhiều phương pháp hoặc tổ hợp của một số phương pháp khác nhau. Hiện nay, tại Việt Nam thường sử dụng hai phương pháp sau để xử lý khí thải lò đốt.

  1. Phương pháp xử lý “ướt”: Dùng tháp phun dung dịch hóa chất. Phương pháp này cho phép loại được bụi và giảm nhiệt độ đồng thời hấp thụ được khí axit trong khí thải. Tuy nhiên phương pháp này không có khả năng loại được CO, VOC và NO.
  2. Phương pháp xử lý “khô”: Hỗn hợp than hoạt tính và soda (Na2CO3) được phun trực tiếp vào dòng khí thải. Phương pháp này cho phép loại bỏ được cả khí axit và CO, VOC, NOx nhờ hấp thụ hóa học trong soda lẫn hấp phụ vật lý trên than hoạt tính. Tuy nhiên, chi phí đầu tư và vận hành đều cao đồng thời sinh ra chất thải thứ cấp là than đã mất hoạt tính và các muối của natri cần phải xử lý.

Từ kết quả của đề tài nghiên cứu: “Khảo sát đánh giá hiệu quả các lò đốt chất thải y tế khu vực phía nam” do Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường TP.HCM thực hiện đã khảo sát thực trạng các lò đốt ở khu vực phía nam hầu như không đạt về một số chỉ tiêu CO, NOx, SOx trong thành phần khí thải theo TCVN 6560:2005 khi lò đốt hoạt động ở chế độ cháy ổn định. Do hiệu quả xử lý triệt để các khí ô nhiễm và tính kinh tế cao của phương pháp xúc tác nên các nhà khoa học đã và đang tập trung nghiên cứu phương pháp này, theo hướng chế tạo ra các xúc tác rẻ tiền, làm việc ổn định và bền với các chất đầu độc khác nhau. Trong những năm gần đây, chúng tôi cũng đã nghiên cứu các xúc tác oxít kim loại chuyển tiếp có hoạt tính cao, ổn định, rẻ tiền và  bền với tạp chất. Xúc tác được lựa chọn trong hệ thống xử lý khí thải là xúc tác khử GC-4R và GC-4O với các thông số như sau:

+ Tỷ lệ diện tích bề mặt tiếp xúc/thể tích        : > 0,6 m2/dm3

+ Trở lực trên 1 lớp xúc tác cao 50 mm          : < 5 mmH2O

+ Độ bền nén dọc theo đường sinh của ống    : > 3 kgf/cm2

+ Vận tốc thể tích                                          : v = 36.000 h-1

Để bảo đảm xử lý triệt để khí thải, chúng tôi kết hợp phương pháp xử lý ướt với phương pháp xúc tác. Hỗn hợp khí trước khi thải vào môi trường sẽ được dẫn qua thiết bị phản ứng chứa xúc tác (reactor) để xử lý CO, VOCs, NOx; tiếp đó qua tháp hấp thụ (xử lý ướt) xử lý các khí axit (HCl, SOx,..­) và NOx còn sót. 

III. LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIA NHIỆT CHO LÒ ĐỐT RÁC THẢI Y TẾ

Từ khảo sát về thực trạng rác thải y tế hiện nay ở Việt Nam, các lò đốt chế tạo trong nước và ngoài nước cho các bệnh viện và trung tâm y tế ở nước ta đều sử dụng nhiên liệu gas hoặc dầu DO, có thể kể đến một số lò đốt như sau:

Bảng 4: Danh mục các lò đốt sử dụng 

STT Đơn vị sử dụng Xuất xứ thiết bị Năng lượng sử dụng
01 Công ty Môi trường đô thị TP.HCM Bỉ Gas
02 BV Đa khoa Bình Dương Việt nam Gas
03 Trung tâm Y tế Bến cầu, Tây Ninh Việt Nam Dầu DO
04 Bệnh viện Lê Lợi, TP. Vũng Tàu Thuỵ Sĩ Dầu DO
05 Bệnh viện Cù Lao Minh, Mỏ Cày, Bến Tre Việt Nam Gas công nghiệp
06 Bệnh viện Quân Y 175 – Bộ Quốc Phòng Việt Nam Gas công nghiệp
07 Bệnh viện Lao – Bệnh Phổi, Tiền Giang Việt Nam Dầu DO

Tuy nhiên với quan điểm phát triển bền vững, vấn đề tiết kiệm năng lượng trong chế tạo và vận hành các lò đốt đặt ra ngày càng gay gắt. Do vậy, việc sử dụng điện làm năng lượng gia nhiệt thay thế cho gas LPG và dầu DO đang chiếm ưu thế nhờ các ưu điểm:

– Chi phí sử dụng điện năng để gia nhiệt thấp hơn trường hợp gia nhiệt bằng gas LPG và dầu DO vì không cần gia nhiệt thêm lượng không khí (đặc biệt là khí nitơ không cần thiết trong không khí) để đốt cháy nhiên liệu.

– Dung tích buồng sơ cấp lò đốt giảm do không cần khoảng trống để khí thải đi qua như khi đốt bằng gas LPG hay dầu DO. Đồng thời dung tích buồng thứ cấp lò đốt cũng giảm đáng kể do giảm được lượng khí thải do gas LPG hay DO sinh ra khi phải bảo đảm thời gian lưu của khí cháy t ≥1 giây nhằm tránh tạo ra dioxin. Điều đó dẫn tới chi phí đầu tư giảm.

– Khả năng điều chỉnh các nguồn cấp năng lượng cũng như chỉnh lượng không khí cấp cho lò đốt dễ dàng và chính xác hơn nhờ bộ điều khiển kiểu PLC.

– Giảm thiểu về vấn đề ô nhiễm SOx trong thành phần khí thải do trong dầu DO có hàm lượng lưu huỳnh cao nên khi cháy sản sinh ra một lượng SOx gây ô nhiễm môi trường.

– Sử dụng điện mang tính an toàn cao hơn đáng kể.

Hơn thế nữa, cho đến nay việc tận dụng năng lượng của khí thải lò đốt có nhiệt độ khoảng 1.000 oC thường chỉ thực hiện trên lò đốt công suất lớn và bị bỏ qua ở quy mô nhỏ. Xét về mặt kinh tế, việc bỏ qua nguồn năng lượng khá lớn này đã góp phần làm tăng chi phí vận hành.

Do đó, công ty môi trường SACOTEC đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá và chế tạo thành công lò đốt tiết kiệm năng lượng với công suất nhỏ khi gia nhiệt bằng điện. Lò đốt này có kết cấu mới cho phép tận dụng khí thải từ buồng thứ cấp để gia nhiệt cho không khí trước khi cấp vào buồng thứ cấp, nhờ đó năng lượng từ điện trở chỉ gia nhiệt bổ sung khi cần thiết. Gia nhiệt bằng điện trở cùng với việc sử dụng bộ điều khiển kiểu PLC cho phép dễ dàng theo dõi, khống chế và điều chỉnh các quá trình xảy ra trong buồng sơ cấp và thứ cấp nhằm bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật và môi trường đồng thời giảm thiểu năng lượng điện sử dụng để gia nhiệt.

IV. NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG LÒ ĐỐT RÁC Y TẾ CÔNG SUẤT NHỎ GIA NHIỆT BẰNG ĐIỆN

lò đốt rác thải y tế

Rác thải y tế được đưa vào buồng đốt sơ cấp [I]. Dàn đốt (1) gia nhiệt buồng đốt sơ cấp. Nhiệt độ buồng sơ cấp sẽ tăng dần từ nhiệt độ thường đến nhiệt độ 300 oC là nhiệt độ khi quá trình nhiệt phân xảy ra ổn định và từ từ tăng lên cho đến 900 oC khi phân hủy hoàn toàn rác thải. Chất hữu cơ bay hơi cùng với khí cháy được hút qua buồng đốt thứ cấp [II]. Tại đây nhờ dàn đốt (2), nhiệt độ buồng đốt thứ cấp được nâng lên tới 1.050 ¸ 1.100 oC sẽ đốt cháy hoàn toàn các chất hữu cơ. Khí thải từ lò đốt sẽ đi qua bộ trao đổi nhiệt (giải nhiệt) [III] để tận dụng nhiệt cấp  cho không khí cấp buồng thứ cấp (nhằm tiết kiệm năng lượng) và sau đó tiếp tục đi qua reactor [IV]. Trong reactor [IV], dưới tác dụng của xúc tác khử GC-4R quá trình khử NOx thành nitơ phân tử xảy ra nhanh chóng; Đồng thời, dưới tác dụng của xúc tác oxi hóa GC-4O các chất hữu cơ còn sót lại và CO sẽ được oxi hóa triệt để thành hơi nước và CO2. Sau đó khí thải tiếp tục được đưa đi xử lý ở tháp xử lý ướt [V], tại đây các khí axit và bụi được xử lý hoàn toàn nhờ bơm [VII] bơm dung dịch hoá chất tuần hoàn. Cuối cùng, khí thải được hút bằng quạt [VI] và xả ra ngoài qua ống khói.

V. PHÂN TÍCH ƯU ĐIỂM LÒ ĐỐT

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng khí thải, tro sau xử lý cũng như chi phí vận hành của lò đốt model SWI-3E công suất 3 kg/giờ lắp đặt tại Trung tâm Y tế Dự phòng huyện Long Phú – Tỉnh Sóc Trăng và thu được các kết quả trình bày ở bảng 5 và 6.

Bảng 5: Kết quả phân tích khí thải và tro sau xử lý lò đốt rác y tế Bệnh viện đa khoa Long Phú

TT Chỉ tiêu Đơn vị

Kết quả (*)

Tiêu chuẩn môi trường

TCVN 6560:2005

1 SOx mg/m3 300
2 NOx mg/m3 1 250
3 HF mg/m3 KPH 2
4 HCl mg/m3 18,7 100
5 CO mg/m3 49,5 100
6 Hg mg/m3 KPH 0,55
7 Cd mg/m3 KPH 0,16
8 Hàm lượng bụi mg/m3 10 115

KPH: Không phát hiện

Bảng 6: Chi phí vận hành tính trên 20 kg rác thải (1 ca – ngày )(*)

Hạng mục Đơn vị Số lượng Đơn giá, đ Thành tiền, đ
Nước m3 0,2 4.000 800
Điện kWh 80 1.200 96.000
Lao động Công 1 40.000 40.000
Tổng chi phí vận hành 136.800

Đơn giá xử lý 1kg rác thải

6.840

(*) Số liệu thống kê năm 2008

Từ kết quả khảo sát trên, chúng tôi khẳng định thiết bị xử lý chất thải y tế bằng công nghệ nhiệt phân – đốt khí cháy – xử lý khí thải là phù hợp nhờ các ưu điểm:

Kỹ thuật:

– Chất thải rắn: được xử lý triệt để và an toàn, tro còn lại sau khi xử lý không còn “sống” (lượng hữu cơ dưới 0,5%).

– Khí thải: khí thải ra từ hệ thống sau khi xử lý đạt TCVN 6560:2005 (nay là QCVN 02/2008/BTNMT).

Chi phí:

– Chi phí đầu tư thấp.

– Chi phí vận hành chấp nhận được.

Kết cấu thiết bị:

– Chắc chắn để có thể sử dụng lâu dài.

– Phù hợp với trình độ người sử dụng cũng như công tác bảo dưỡng.

Công Ty TNHH Công Nghệ Kỹ Thuật SACOTEC
Địa chỉ: Số 25, Đường số 7, Phường 7, KDC Cityland , Gò Vấp, TP. HCM
MST: 0314671217 E-mail: tan.hoang.sacotec@gmail.com
Điện thoại: 0974.285.153
Hotline: 0974.285.153

Website: http://sacotec.vn

 

Ghi rõ nguồn môi trường SACOTEC khi sử dụng bài viết này

SACOTEC – VÌ MÀU XANH TƯƠNG LAI

Đọc Thêm :   BÃI CHÔN LẤP HỢP VỆ SINH