TÔI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT THÀNH PHÂN COMPOST

0
9837

TÔI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT THÀNH PHÂN COMPOST NHƯ THẾ NÀO ?

Một trong những chủ đề tiếp theo tôi muốn được chia sẻ với các bạn trong chuyên mục “TÔI ĐÃ THÀNH CÔNG” đó chính là biến các bạn thành phù thủy có thể tạo phân compost hữu cơ từ rác thải sinh hoạt, hữu cơ theo quy mô gia đình hay lớn hơn cũng tương tự. Lý do tôi muốn chia sẻ bài viết này đó vì nhu cầu cấp thiết, thiết thực của hành động này. “ĐỪNG BIẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA CHÚNG TA THÀNH BÃI RÁC” là điều thôi thúc chia sẻ bài viết này.

Nếu các bạn muốn biết thực trạng rác thải như thế nào, hãy đọc bài viết THỰC TRẠNG RÁC THẢI Ở VIỆT NAM, để mỗi các bạn có thể hiểu và giúp bảo vệ môi trường sống của chính các bạn và những người xung quanh.

Với bài viết này, tôi xin chia sẻ ví dụ cụ thể,

  • Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt thành phân compost ở ĐăkNông

Với thương hiệu cá nhân riêng của tôi và thương hiệu của công ty, tôi đã nhận được một cuộc gọi điện đề nghị tham gia vào dự án nhà nước tại ĐăkNông để xử lý rác thải sinh hoạt thành phân hữu cơ (compost). Sau khi tiếp xúc với Chủ Đầu Tư là nhà nước, tôi nhanh chóng đưa ra công nghệ phù hợp với quy mô đầu tư. Quy trình đó như sau :

  1. Giải pháp xử lý nước thải của bãi rác:

Theo nguyên tắc của giải pháp vệ sinh môi trường là cần có khu xử lý theo dây chuyền công nghệ đã qui định, nhưng do điều kiện kinh phí có hạn, chưa xây dựng được khu xử lý cho nên trước mắt nước rác được thải ra hố chứa, rồi dùng hóa chất xử lý sau đó thải ra ngoài (dùng máy bơm).

  1. Quan trắc môi trường khi bãi rác hoạt động :

Để xác định môi trường có bị ô nhiễm hay không ta cần thiết tiến hành kiểm soát nước rác gồm các loại sau :

– Thành phần nước rác.

– Kiểm soát lượng nước mặt.

– Kiểm soát lượng nước ngầm

  1. Vận hành bãi rác và giảm thiểu ô nhiễm môi trường :

– Rác thải sinh hoạt được thu gom bằng xe chuyên dụng đến đổ vào bãi chôn rác. Sau mỗi ngày phải phun chế phẩm EM, hóa chất diệt ruồi, hóa chất Bokashi với định mức như sau :

+ Chế phẩm EM PRO-1: 0,6 lit/tấn rác

+ Hóa chất diệt ruồi: 0,0041 lít/1 tấn rác

+ EM FERT-1: 0,345kg/tấn rác

– Phủ một lớp đất dày 20 cm lên trên.

Đọc Thêm :   TÔI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG Ủ VỎ CÀ PHÊ VÀ CHẤT THẢI SINH HOẠT NHƯ THẾ NÀO ?

ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT THÀNH PHÂN COMPOST

  1. Cơ sở lựa chọn phương án công nghệ:

I.1. Tính khả thi về mặt môi trường

Tính khả thi về mặt môi trường đối với công nghệ xử lý rác thải được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu cơ bản như sau:

– Không được phát sinh ra các chất thải thứ cấp có khả năng gây ô nhiễm và tác động đến môi trường. Nghĩa là công nghệ xử lý rác thải phải bao hầm tất cả giải pháp kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ nhằm xử lý triệt để và thỏa mãn các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường đối với các chất thải thứ cấp sinh ra trong suốt các quá trình vận chuyển, tập kết, phân loại và xử lý rác như:

+ Nước rác

+ Khí thải

+ Mùi hôi

+ Cặn bùn từ hệ thống xử lý nước rỉ rác và các loại nước thải khác

+ Các thành phần trơ còn lại được tách riêng khỏi phân rác (khi dung công nghệ ủ rác làm phân)

– Không được để nước rác thấm xuống đất gây ô nhiễm các tầng nước ngầm.

– Hạn chế đến mức thấp nhất có thể chấp nhận được sự phát sinh các loài ruồi nặng, côn trùng, vi trùng, gặm nhấm

– Không gây ra các tác hại lâu dài về mặt gen và di truyền học.

I.2. Tính khả thi về mặt kỹ thuật

Tính khả thi về mặt kỹ thuật đối với công nghệ xử lý rác thải được đánh giá qua một số chỉ tiêu cơ bản sau:

– Công nghệ xử lý được chọn ( kể cả các công nghệ phụ trợ kèm theo) phải đảm bảo tính thích hợp và chắc chắn với diễn biến thành phần và tính chất rác thải Tỉnh Đăk Nông trong bất kỳ điều kiện khí hậu, thời tiết hay các chế độ thủy văn nào của khu vực xử lý rác sinh hoạt.

– Điều kiện cơ sở hạ tầng (ví dụ như: Mặt bằng, cấp điện, cấp nước, tiêu thoát nước, giao thông, thông tin liên lạc, phòng cháy chữa cháy….) phải đáp ứng các yêu cầu liên quan đến việc thi công và vận hành khu xử lý rác sinh hoạt.

– Các yêu cầu về mặt kỹ thuật của công nghệ xử lý rác sinh hoạt ( ví dụ như: tiêu chuẩn lớp lót chống thấm dưới đáy chon lấp rác hợp vệ sinh) phải được đáp ứng đầy đủ trong suốt quá trình thi công, xây dựng và vận hành khu xử lý rác sinh hoạt.

– Phải đảm bảo khả năng cung cấp, bảo dưỡng, sữa chữa các trang thiết bị kèm theo, CB –CNV quản lý và vận hành khu xử lý rác sinh hoạt phải làm chủ được công nghệ.

– Các sản phẩm đầu ra của công nghệ xử lý nếu có phải đảm bảo một số chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản và không gây tác hại đối với môi trường và sức khỏe công động trong quá trình sử dụng chúng.

– Phải có đầy đủ các giải pháp kỹ thuật và công nghệ thay thế khi cần thiết ( để đối phó với những tình huống bất trắc có thể xảy ra, đặc biệt đối với các khía cạnh môi trường liên quan đến khu xử lý rác sinh hoạt.)

Đọc Thêm :   Bật mý kỹ thuật ủ phân hữu cơ từ phế phẩm phụ liệu trong chăn nuôi trồng trọt từ A-Z

II.Phân tích lựa chon công nghệ:

Căn cứ vào cơ sở lựa chọn công nghệ đều có ưu nhược điểm riêng, rất khó đánh giá, phụ thuộc vào thành phần chất thải vào điều kiện sẵn có của địa phương. Khu vực dự án là khu nông thôn, điều kiện kỹ thuật, cơ sở hạ tầng còn kém nên các công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư chi phí vận hành cao, kỹ thuật vận hành khó không thích hợp, do đó mô hình lựa chọn công nghệ ủ phân Compost.

So sánh lựa chọn các phương pháp ủ phân compost tại bảng sau:

Bảng 4.1: So sánh các phương pháp ủ hiếu khí, kỵ khí và thiếu khí:

Chỉ tiêu so sánh Ủ kỵ khí Ủ hiếu khí Ủ thiếu khí
Chi phí đầu tư Trung bình Cao nhất Thấp nhất
Chi phí vận hành Tương đối thấp Cao nhất Rất thấp
Diện tích đất yêu cầu Lớn nhất Thấp nhất Trung bình
Quy mô ứng dụng Công suất lớn Lớn, trung bình Nhỏ
Thời gian ủ phân Dài nhất Ngắn nhất Trung bình
Sản phẩm phụ Cần xử lý bùn thải Không có Không có
Tác động môi trường Khả năng cháy nổ do rò rỉ methane Chủ yếu là khí thải và mùi hôi Chủ yếu là khí thải và mùi hôi
Tỷ lệ thu hồi compost từ 1 tấn CTR ủ 66kg compost và 5m3 bioga 200kg compost 90kg compost

Vì vậy chọn phương án sản xuất phân compost bằng cách phân hủy hiếu khí trong các hầm kín với sự cấp khí tự nhiên vì:

  • Các hầm ủ kín dễ xây dựng và chi phí không cao giúp tránh những cấn đề có liên quan đến thời  tiết như mưa, gió…
  • Quá trình ủ xảy ra trong các hầm kiện nên dễ kiểm soát mùi hổi, nước rác phát sinh, và các yếu tố kỹ thuật như nhiệt độ, độ ẩm, tỷ lên C/N… có thể được điều kiển duy trì theo yêu cầu của quá trình ủ.
  • Cấp khí tự nhiên nên không tốn chi phí năng lượng vận hành hệ thống cấp khí tự nhiên.
  • Công nghệ đơn giản, chiếm ít diện tích đất.

Ngoài việc cấp khí tự nhiên, hầm ủ cần được cung cấp nước rỉ tuần hoàn từ quá trình ủ, việc làm này sẽ tăng lượng vi sinh phân hủy có ích trong khối ủ, duy trì được độ ẩm khổi ủ, cung cấp lại Nito trong quá trình compost và trên hết là sẽ không phát sinh nước thải ra môi trường ngoài. Tuy nhiên, để đảm bảo rằng lượng nước rỉ rác này được xử lý hoàn toàn và không gây ảnh hưởng đến môi trường trong trường hợp phát sinh nước rỉ rác nhiều do rác có độ ẩm cao hay vào mùa mưa, nước mưa dễ ngầm vào rác tại khu tiếp nhận nên ao sinh học được bổ sung xây dựng để xử lý phần nước rỉ dư này. Nước rác sẽ được xử  lý bằng ao sinh học nhờ thực vật nước.

10. Thuyết minh quy trình xử lý rác thải thành phân compost 

10.1 Lý thuyết minh về phân compost

Ủ phân hữu cơ làm phân hữu cơ ở quy mô công nghiệp: là quá trình ổn định sinh hoá các chất hữu cơ để hình thành các chất mùn nhờ vi sinh vật hiếu khí, với quy trình sản xuất và kiểm soát một cách khoa học, tạo môi trường tối ưu cho quá trình rác phân huỷ thành mùn. Sản phẩm tạo thành là phân hữu cơ mùn (phân mùn) được sử dụng trong nông nghiệp và trồng vườn.

Chất thải rắn được sử dụng chủ yếu là rác hữu cơ được phân loại bằng máy hoặc bằng thủ công qua các hệ thống băng chuyền. Sau khi phân loại rác được đưa vào máy nghiền để có kích thước đồng nhất, sau đó được trộn thêm bùn cống rãnh, cặn hầm cầu để điều  chỉnh tỷ lệ C:N khoảng 7-12 lần rồi được đưa vào quá trình lên men hiếu khí (phân huỷ sinh học) trong các thiết bị khác nhau. … Quá trình lên men hiếu khí cần có sự cấp không khí cho vi sinh vật. Việc cấp khí có thể dưới dạng tự nhiên hoặc cưỡng bức tuỳ theo điều kiện diện tích, kinh phí đầu tư và vận hành. Sau quá trình phân huỷ, chất thải trở lên xốp được đưa sang khu ổn định và chế biến để thành phân mùn thành phẩm.

10.2 Đề xuất quy trình sản xuất phân compost.

quy trinh u phan compost tu rac sinh hoat

Bước 1 – Thu gom và tập kết rác thải

Xe tải thu gom rác vận chuyển đến cổng nhà máy được đi qua cân điện tử để đo chính xác lượng rác chuyển đến. Sau đó rác được đổ vào khu vực tập kết rác.

Trong khâu phân loại, rác thải được đưa lên dây chuyền băng tải và được công nhân phân loại thủ công. Phần nguyên liệu có khả năng phân hủy sinh học, chủ yếu là các chất hữu cơ, được công nhân dùng xe đựng rác đẩy tay đưa sang khu vực ủ phân (composting). Phần nguyên liệu có thể dùng để tái chế (chiếm 7%) được công nhân lấy ra (giấy, bìa catông, nilông, nhựa, kim loại) và đưa chúng vào các thùng chứa đặt dưới sàn phân loại. Phần nhựa, nilông được bỏn cho nhà mỏy tái chế để sản xuất ra nhựa hạt. Các nguyên liệu tái chế có giá trị khác bán ra thị trường. Rác sau giai đoạn phân loại này (dưới 23%) thường không còn giá trị tái chế (chất trơ) và được chuyển tới bãi chôn lấp hoặc lò đốt.

Bước 2 –  Bổ sung chế phẩm sinh học, chất dinh dưỡng: Thành phần chất thải hữu cơ dễ phân hủy sinh học được bổ sung thêm vi sinh, chất dinh dưỡng, độ ẩm phù hợp để tạo điều kiện tối ưu cho quá trình phân hủy của vi sinh vật. 

Bước 3 –  Ủ cấp khí tự nhiên: Sau khi bổ sung phụ gia, hỗn hợp nguyên liệu hữu cơ được đưa vào hầm ủ với thời gian ủ lên men khoảng 12 ngày.

Bước 4 –  Ủ chín: 

Rác thải sau khi ủ trong hầm ủ được đem ra và ủ đánh luống . Quá trình ủ phân diễn ra tại các luống ủ. Suốt trong quá trình ủ cần phải có lực tác động để làm biến đổi chất hữu cơ thành phân ủ compost kèm theo việc làm ẩm. Điều này được thực hiện nhờ một xe đảo đống di động chuyên dụng có gắn kèm thiết bị tưới ẩm (hoặc có thể sử dụng phương pháp đảo trộn thủ công). Đống ủ có kích thước: cao 1,2 m, chân rộng 2m chiều dài không giới hạn. Với kích cỡ đống như vậy, quá trình sinh học sẽ diễn ra nhanh chóng, nhiệt độ được giữ ổn định và đống có tiết diện đủ lớn để trao đổi khí. Hoạt động sinh học có thể làm tăng nhiệt độ lên tới 70oC ở tâm của luống ủ. Bằng cách đảo luống đều đặn các phần bên ngoài được chuyển vào phần lõi của luống ủ. Như vậy các vi sinh vật có hại (mầm bệnh) và các hạt cỏ dại sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Tuỳ thuộc vào điều kiện của luống ủ, quá trình đảo sẽ được thực hiện hai hoặc ba lần trong tuần. Nếu độ ẩm ở dưới ngưỡng 40% thì việc tưới nước làm ẩm nguyên liệu ủ là điều cần thiết.

Sau khoảng 4 tuần diễn ra sự phân huỷ mạnh, quá trình ủ phân hữu cơ cơ bản hoàn tất. Điều này được đánh dấu bởi sự giảm nhiệt độ ở tâm của luống ủ xuống dưới 40oC. Nếu để thêm 4 tuần ủ nguội, phân hữu cơ compost sẽ đạt độ chín nhất. Giờ đây nguyên liệu đã sẵn sàng cho việc sàng tinh và phối trộn thành các loại phân hữu cơ vi sinh hay phân hữu cơ sinh hóa.

Bước 5 – Giai đoạn tinh chế:

Sản phẩm phân sau ủ luống sẽ được cho vào thiết bị tuyển từ để tách kim loại còn sót lại trong phân. Sau khi tách kim loại xong, phân được cho vào thiết bị sàng quay để tách phần rác thải chưa phân hủy (chưa hoai mục). Hỗn hợp phân sau khi tách kim loại được cho vào thiết bị sàng quay, khi thiết bị khởi động, phần chất thải có kích thước nhỏ( đã hoai mục) sẽ lọt qua khe hở của thiết bị sàng và được thu công nhân thu gom lại. Phần chất thải còn sót lại trong thiết bị được đem đi xử lý (có thể đem ủ lại nếu phần rác là hợp chất hữu cơ hoặc có thể đem chôn lấp nếu phần rác khó phân hủy).

Phần phân qua thiết bị sàng được công nhân cho vào thiết bị nghiền để nghiền mịn phân.Muốn nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu thị trường, có thể phối trộn thêm các chủng vi sinh vật hữu ích để có phân hữu cơ vi sinh hoặc phối trộn thêm NPK theo các công thức khác nhau để có phân hữu cơ sinh hóa phù hợp theo từng chủng loại cây hay mục đích sử dụng riêng biệt..

Mùn compost và phân hữu cơ được sản xuất từ chất thải sinh hoạt sau khi kiểm tra đạt chất lượng theo quy định tại Thông tư 36/2010/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành, được vận chuyển đến kho thành phẩm để lưu trữ và tiêu thụ trên thị trường.

10.3       Hướng dẫn vận hành quy trình công nghệ sản xuất phân compost.

  1. Quy trình phân loại chất thải rắn sau khi tiếp nhận.

       Ban đầu rác thải được xe thu gom vận chuyển đến cổng nhà máy được đổ vào khu tập kết rác thải. 

Trong khâu phân loại, rác thải được đưa lên dây chuyền băng tải và được công nhân phân loại thủ công.

 Quá trình phân loại thủ công giúp phân chia rác thành nhiều nhóm, với mỗi nhóm sẽ có cách xử lí riêng khác nhau:

  • Với thành phần rác dễ phân hủy như rác thực phẩm, rác vườn, lá cây, rau củ quả hư… sẽ được chuyển vào một hầm ủ để ủ phân với chất lượng cao dùng cho sản xuất nông nghiệp.
  • Với thành phần rác có khả năng tái chế như giấy bìa, thủy tinh, kim kim loại, chai lọ bằng nhựa… sẽ được thu gom lại chứa trong một hầm ủ trong khi chờ người tới thu mua.
  • Với thành phần rác nhựa, bao nylon, phế thải vụn nhựa không thể tái chế, không ai thu mua sẽ được gom lại chứa tạm trong hầm ủ với rác tái chế, sau đó trộn chung với phần không hoai từ các hầm ủ để ép tạo viên nhiên liệu.
  • Với thành phần rác gồm cành khô, bụi cây, phế thải gỗ vụn kích thước lớn, vỏ dừa … sẽ được để lên trên nóc các hầm ủ để phơi khô, giảm ẩm và sau đó có thể bán/ cho người dân để sử dụng làm chất đốt.
  • Với những phần rác hỗn tạp còn lại sau khi đã loại ra những thành phần trên cũng sẽ được chuyển vào một hầm ủ riêng để ủ với chất lượng thấp hơn và dùng bón cho cây cảnh.

     Từ một dự án tương tự ở Bình Dương cho thấy, thành phần rác thực phẩm trong CTRSH chiếm 51,39% (có cả rác vườn ), các thành phần có thể tái chế chiếm 1,77%, rác còn lại 46,84% và chất thải rắn nguy hại pin, ắc quy… rất ít do mức sống nông thôn không sử dụng nhiều thiết bị dùng pin … nên lượng rác thải này ít.

    Sau khi phân loại các nhóm chất thải được cân xác định khối lượng, lượng rác hữu cơ dễ phân hủy được xác định khối lượng hàng ngày trước khi đổ vào các hầm ủ. Thời gian nạp liệu kéo dài từ 2-3 giờ.

  1. Quy trình nạp rác vào các hầm ủ.
  • Quá trình nạp rác hữu cơ dễ phân hủy vào hầm ủ kéo dài nhiều ngày thì mới đầy hầm do lượng rác tiếp nhận mỗi ngày tương đối ít. Ban đầu rác được đổ đống vào phía cuối hầm và dần dần chất đầy rác ra phía cửa. Khi khối lượng rác trong hầm đã nhiều và hình thành một khối với chiều cao tăng dần cao hơn ngạch cửa thì bắt đầu đặt những tấm ván gỗ vào khe cửa làm vật chặn.
  • Sau đó, rác vẫn tiếp tục được chuyển vào hầm và rác dâng cao đến đâu thì tiếp tục đặt thêm ván chặn ở đó. Khi chiều cao đống rác ủ đã vượt quá chiều cao cửa trước thì tiếp tục nạp rác vào hầm bằng cửa mái.
  • Việc nạp rác vào hầm ủ kết thúc khi mặt trên của đống rác ủ chỉ cách sàn mái 0.5m. Sau đó rác được chuyển tới sẽ được nạp vào hầm kế tiếp lần lượt theo thứ tự hầm này đầy thì chuyển rác vào hầm kế.
  • Trong quá trình nạp rác nhiều ngày, rác ban đầu trong hầm sẽ nhanh chóng xẹp xuống, chiều cao đống ủ giảm thì có thể tiếp tục nạp rác mới vào hầm ủ này nhưng lưu ý khoảng cách tối thiểu từ bề mặt đống ủ đến sàn mái (trần) cần là 0,5m.
  • Đối với phần rác hỗn tạp cũng tiến hành ủ và vận hành chuyển vào hầm tương tự như phần rác dễ phân hủy trên. Tuy nhiên rác này sẽ được ủ trong một riêng khác đối với các hầm ủ dùng để ủ rác dễ phân hủy và hai hầm ủ hai loại rác này sẽ được vận hành song song đồng thời.
    1. Cơ chế của quá trình ủ compost thiếu khí

Khi hầm đầy khoảng 2/3 rác hữu cơ, đóng cửa hầm, thực hiện quá trình hoại hoàn toàn. Công nghệ áp dụng là công nghệ ủ thiếu khí (điều kiện cấp khí tự nhiên) trong các hầm kín. Quá trình ủ được thực hiện như sau:

  • Rác sau khi phân loại chứa chủ yếu thành phần hữu cơ có thể phân hủy sinh học được vào hố ủ. Quá trính ủ sẽ được thực hiện dưới điều kiện thiếu khí nghĩ là không khí sẽ được cung cấp tự nhiên từ bên ngoài vào trong khối ủ để đảm bảo cho VSV hiếu khí tồn tại phát triển và phân hủy tốt nhất các chất hữu cơ
  • Số lượng VSV đã có (trong rác thại ban đầu) sẽ được nhân lên. Chúng đóng vai trò chính biến thành phần hữu cơ (có trong rác thải) thành compost (mùn hữu cơ). Những điều kiện môi trường có ảnh hưởng quyết định hiệu quả của quá trình xử lý bao gồm: không khí (O2), nhiệt độ, độ ẩm, PH.
  • Rác hữu cơ được nạp vào các hầm kín. Hầm có đáy hở để thu nước rác và để cấp khí tự nhiên cho khối ủ.
  • Sản phẩm của quá trình ủ bao gồm: mùn hữu cơ (compost), khí (CO2, NH3 ,…) và quan trọng nhất là quá trình sinh ra từ quá trình trao đổi chất làm tăng nhiệt độ trong khối ủ từ nhiệt độ không khí xung quanh lên nhiệt độ thermophilic (550C). ở nhiệt độ này đảm bảo cho quá trình ủ được ổn định và sau đó là quá trình hoại (ủ chín) đạt được hiệu quả cao. Đồng thời nhiệt độ thermophilic có tác dụng tiêu diệc mầm mống VSV gây bệnh.
  • Ngoài ra chính sự gia tăng nhiệt độ trong khối ủ tạo nên sự trên lệch nhiệt độ với không khí bên ngoài tạo ra sự thông khí tự nhiên (khí từ bên ngoài được hút vào trong khối ủ).

 d. Vận hành các hầm ủ sau khi đã nạp đầy rác.

  • Khi các hầm ủ đã nạp đầy rác và không tiếp nhận them nữa, quá trình phân hủy thiếu khí diễn ra tự nhiên, cần theo dõi các thông số quá trình ủ gồm: nhiệt độ, độ ẩm, Ph và duy trì các thông số này nằm trong khoảng tốt nhất.
  • Nhiệt độ trong khoảng : 50 – 650
  • Tỉ lệ :   C/N = 30:1.
  • Độ ẩm trong khoản :   50 – 60%.
  • pH trong khoảng :   6,0 – 8,0.
  • Khi phát sinh 11 hầm kín từ quá trình ủ cấp khí tự nhiên chủ yếu (CO2, NH3 và một số chất khí khác) được dẫn ra ngoài bằng ống thông khí.
  • Thường xuyên kiểm tra mương nước mỗi ngoài một lần hay nhiều hơn trong trường hợp có sự cố, do rác rất dễ lắng đọng do tắc nghẽn nên cần vệ sinh điều đặn khi cần thiết.
  • Sau một thời gian ủ thiếu khí khoảng từ 50 – 70 ngày (trung bình là 60 ngày), nếu nhìn thấy mốc trắng phía trên bề mặt của đóng rác ủ thì có nghĩa là rác đã hoai hết và ổn định có thể lấy ra ngoài để thực hiện các bước tiếp theo.
  • Phần mùn thô trong hầm ủ sẽ được xúc ra ngay phía trước hầm ủ để phơi nắng cho giảm độ ẩm. Thời gian phơi khô ráo ẩm tùy theo độ dày của mùn khô, có thể kéo dày vài ngày nhưng thường căn cứ trên những chỉ tiêu cảm quan thực tế, sẽ tiếp tục phơi mùn thô đến khi nào nó không còn kết dính vào nhau khi xúc đảo trộn trên sân phơi.
  • Mùn thô sau một thời gian phơi nắng đạt độ ẩm theo yêu cầu (thông thường từ 30 – 35%) thì sẽ được đưa qua máy sàng với kích thước mắt lưới khoảng 5 – 8mm nhằm tách loại ra phần mùn tinh và phân không hoại có kích thước lớn.

Đối với mùn tinh được bán cho người dân địa phương. đạt chất lượng theo quy định tại 10 TCN 526 -2002 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cho phân vi sinh chế biến từ rác thải sinh hoạt ban hành, được vận chuyển đến kho thành phẩm để lưu trữ và tiêu thụ trên thị trường.

  • Đối với phần không hoại có kích thước lớn sẽ được chôn lấp tại bể chôn lấp của mô hình.

Trên đây là công nghệ mà chúng tôi đã ứng dụng thành công trong việc xử lý rác thải sinh hoạt thành phân compost với giá thành hợp lý. Ở phần tiếp theo tôi sẽ chia sẻ cho các bạn về ủ phân compost trong nông nghiệp để bà con nông dân có thể có nguồn phân bón dồi dào mà chi phí thấp nhất. Rất mong các bạn đón đọc chuyên mục “TÔI ĐÃ THÀNH CÔNG” của CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT SACOTEC.

Ý tưởng bởi TÂN MÔI TRƯỜNG

CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT SACOTEC
Địa chỉ: 490/12/4 Đường Hà Huy Giáp, phường Thạnh Lộc, Quận 12, TP Hồ Chí Minh
MST: 0314671217 E-mail: tan.hoang.sacotec@gmail.com
Điện thoại: . – 0911045489
Hotline: 0974.285.153

Website: http://sacotec.vn