HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI TINH BỘT MÌ CHẤT LƯỢNG NHẤT

0
1056
  1. ĐẶC ĐIỂM NƯỚC THẢI VÀ YÊU CẦU XỬ LÝ

Là một trong những ngành kinh tế đang được đánh giá quan trọng của đất nước, song song với sự phát triển thì công nghiệp tinh bột sắn cũng tác động lớn đến ô nhiễm môi trường. Trong đó ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là những nguồn nước xung quanh Nhà máy. Do các công nghệ sử dụng hầu hết đã lạc hậu, thiết bị cũ và không đồng bộ, định mức nước cho một đơn vị sản phẩm còn lớn, hiệu suất tận chiết bột còn kém, và do các nhà máy thường tập trung gần nội thành, gần khu dân cư nên ô nhiễm của ngành tinh bột sắn lại càng trở lên nghiêm trọng. Do vậy, việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu và xử lý ô nhiễm nước thải ngành tinh bột sắn đang là một yêu cầu cấp bách cần được giải quyết nhằm đảm bảo phát triển một cách bền vững

Nước được sử dụng trong quá trình sản xuất chủ yếu ở các công đoạn rửa củ, ly tâm, sàng loại sơ, khử nước. Lượng nước thải phát sinh nhà máy dự kiến có 10% bắt nguồn từ nước rửa củ và 90%xả ra từ công đoạn ly tâm, sàng lọc, khử nước.

Bảng 1.1. Thành phần tính chất nước thải tinh bột khoai mì

Chỉ tiêu Đơn vị Nước thải chế biến từ tinh bột
Từ công đoạn rửa củ Từ công đoạnLy tâm, sàng lọc Nước thải tổng hợp (cống chung)
pH   6.5 – 7.5 4-4.5 4.5 – 5.0
SS Mg/1 400 – 500 1.300- 1.800 1.100- 1.500
BOD Mg/1 40-60 3.500-4.500 3.500-4.000
COD Mg/1 100- 150 4.000-4.800 4.000 – 4.400
Nitơ tổng Mg/1 30-38 70-75 60-70
Phosphat tổng Mg/1 1 – 1.5 5.5- 10 5.5- 10
CN Mg/1 5-25

Nguồn Xí nghiệp môi trường – ECO

Đọc Thêm :   CÁC MỨC PHẠT KHI VI PHẠM XẢ THẢI NƯỚC THẢI

Nước thải khoai mì được thải ra chủ yếu từ giai đoạn rửa củ và tách tinh bột (ly tâm, sàng lọc). Loại nước thải này có đặc tính tương tự như đặc tính nước thải các ngành thực phẩm khác. Tức là trong thành phần của nước thải khoai mì chứa hàm lượng chất hữu cơ rất cao, độ đục cao do ảnh hưởng của cặn lơ lửng nên có khả năng gây ô nhiễm môi trường rất lớn.

Đặc biệt, trong nước thải khoai mì có chứa HCN là một acid có tính chất độc hại. Đây là chất hóa học trong khoai mì gây nên trạng thái say, ngộ độc khi ăn phải quá nhiều. Khi ngâm khoai mì vào nước một phần HCN sẽ vữa ra tan vào trong nước và theo nước thải ra ngoài. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động có sục khí SO2vào ở công đoạn trích ly, SO2 khi gặp nước sẽ chuyển hóa thành acid H2SO3 làm cho pH trong nước giảm xuống rất nhiều.

   Bảng 1.2: Nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 40-2011 (cột A):

STT Chỉ tiêu Đơn vị QCVN 40- 2011(cột A)
1 Ph   6,5 – 7,5
2 COD mg/l 75
3 BOD5 mg/l 30
4 SS mg/l 50
5 Nito_tổng mg/l 20
6 Photpho__tổng mg/l 4
7 Cyanua (CN-) mg/l 0,07

 2. SƠ ĐỔ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

2.1  Sơ đồ quy trình

 

1
Sơ đồ quy trình công nghệ

  

  2.2. Thuyết minh sơ đồ công nghệ

Nước thải từ nhà máy sản xuất tinh bột mì được dẫn theo hệ thống cống rãnh đến bể lắng cát. Nước thải trước khi vào bể lắng cát được dẫn qua song chắn rác để loại bỏ các tạp chất, rác thải có kích thước lớn, nhằm bảo vệ các thiết bị máy móc cho công trình phía sau. 

Tại bể lắng cát, các cặn vô cơ và một ít cặn hữu cơ khó phân hủy sinh học sẽ được loại bỏ. Cát ở bể lắng cát sẽ được lấy ra bằng phương pháp thủ công. Nước thải sau lắng sẽ tự chảy đến bể acid hóa với thời gian lưu nước là 1 ngày với mục đích chính là khử CN-và chuyển hóa các chất khó phân hủy thành các hợp chất đơn giản dễ xử lý sinh học.

Đọc Thêm :   Vận hành hệ thống xử lý nước thải: Những vấn đề thường gặp và cách khắc phục

Tại bể acid hóa, nước thải sẽ được châm thêm acid để hạ pH xuống (nếu pH trong nước thải cao). Kế tiếp, nước thải sẽ được bơm vào bể điều hòa.

Do lưu lượng và nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nước thải ở mỗi thời điểm là khác nhau. Vì vậy, để đảm bảo hiệu suất xử lý cho các công trình phía sau, nước thải được dẫn vào bể điều hòa để điều hòa lưu lượng và nồng độ. Hệ thống máy thổi khí sẽ cấp khí để hòa trộn đều nước thải, đồng thời  ngăn chặn quá trình đóng cặn dưới đáy bể. Nước thải từ bể điều hòa được bơm lên bể keo tu-tạo bông. Đầu tiên nước thải được bơm vào ngăn khuấy trộn. Tại đây hóa chất keo tụ và hóa chất điều chỉnh pH được bổ sung vào tạo điều kiện cho quá trình keo tụ xảy ra. Motor cánh khuấy điều chỉnh ở tốc độ nhanh để hóa trộn đều hóa chất vào nước thải. Nước thải tiếp đó được dẫn sang ngăn tạo bộng. Tại đây, hệ thống châm hóa chất sẽ bổ sung hóa chất trợ keo tụ để nâng cao hiệu quả keo tụ, motor cánh khuấy được điều chỉnh ở tốc độ thích hợp để quá trình tạo bông tiếp diễn, đồng thời tránh làm vỡ bông cặn. Hỗn hợp bông cặn cùng nước thải được dẫn vào bể lắng hóa lý. Tại đây, nhờ tác dụng của trọng lực, các bông cặn được lắng xuống đáy bể. Phần nước trong được thu vào hệ thống máng tràn và được dẫn vào bể sinh học kị khí ( UASB).

Phương pháp xử lý sinh học kỵ khí dựa trên cơ chế hoạt động của các vi sinh vật phát triển trong môi trường không có oxy để phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải. Các vi sinh vật sử dụng các chất hữu cơ và một số khoáng chất làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng, xây dựng tế bào, sinh trưởng và sinh sản nên sinh khối của chúng tăng lên, từ đó làm giảm COD, BOD trong nước thải.

    Nguyên tắc hoạt động của bể này là nước thải sẽ được phân phối từ dưới lên và được khống chế vận tốc phù hợp qua lớp bùn kỵ khí , tại đây sẽ diễn ra quá trình phân hủy chất hữu cơ bởi các vi sinh vật. Hệ thống tách pha phía trên bể làm nhiệm vụ tách các pha rắn – lỏng và khí, qua đó thì các chất khí sẽ bay lên và được thu hồi, bùn sẽ rơi xuống đáy bể và nước sau xử lý sẽ theo máng lắng chảy qua công trình xử lý tiếp theo.  Sau đó, nước từ bể UASB sẽ chảy tràn qua bể Anoxic. Tại bể anoxic, quá trình khử nitrate, nitrite xảy ra, các vi sinh vật sẽ sử dụng các hợp chất hữu cơ để khử nitrate, nitrite thành khí N2. Nước sau khi qua anoxic được dẫn vào bể sinh học hiếu khí (aerotank).

Tại bể sinh học hiếu khí, hệ thống cấp khí được bổ sung vào bể nhằm tạo điều kiện hiếu khí cho vi sinh vật duy trì sự sống. Đồng thời xáo trộn đều bùn hoạt tính và nước thải. Các vi sinh vật có trong bùn hoạt tính sẽ sử dụng các hợp chất hữu cơ và chất dinh dưỡng mà dòng nước thải mang vào để sinh trưởng và phát triển. Trong bể này, amoni sẽ được chuyển hóa thành nitrate, nitrte nhờ vi sinh vật nitrat hóa.(nitrosomonas và nitrobacter). Nước thải sau bể aerotank một phần được tuần hoàn trở lại bể anoxic để loại khử bỏ nito, phần còn lại được dẫn vào bể lắng sinh học

Tại bể lắng sinh học, các bông bùn được lắng xuống đáy bể nhờ trọng lực, phần nước trong được thu vào hệ thống máng tràn và được dẫn vào bể khử trùng.

 Tại bể khử trùng, hóa chất NaOCl  được bổ sung vàođể loại bỏ các vi sinh vật gây hại còn lại trong nước. Nước sau khử trùng được bơm lên bồn lọc áp lực để loại bỏ cặn lơ lững còn sót lại. Nước sau qua bồn lọc áp lực được thải ra nguồn tiếp nhận.

Nước sau xử lý đạt giá trị C Cột A QCVN 40-2011/BTNMT

Bùn sinh ra từ bể lắng hóa lý và một phần bùn dư từ bể lắng hai được dẫn vào bể chứa bùn và được đem đi xử lý theo yêu cầu.

Đọc Thêm :   Tổng hợp các công nghệ xử lý nước thải mới nhất
                        

Hãy liên hệ ngay với chúng tôi:

Công Ty TNHH Công Nghệ Kỹ Thuật SACOTEC
Địa chỉ: Số 25, Đường số 7, Phường 7, KDC Cityland , Gò Vấp, TP. HCM
MST: 0314671217 E-mail: tan.hoang.sacotec@gmail.com
Điện thoại: 0898.873.889 – 0869.357.596
Hotline: 0974.285.153

Website: http://sacotec.vn